Số 4/28/379 Phố Đội Cấn, Phường Ngọc Hà, TP. Hà Nội
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tham gia phiên thảo luận Tổ tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI vào chiều 23/10. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Chiều 23/10, tiếp tục Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu thảo luận tại tổ về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Tham gia thảo luận tại Tổ 3, gồm các đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Tĩnh, có Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc.
Các ý kiến tán thành sự cần thiết sửa đổi các luật thuế nhằm thể chế hóa chủ trương phát triển giáo dục, đào tạo, hỗ trợ người dân và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai; đồng thời đề nghị đánh giá kỹ tác động ngân sách, xác định rõ phạm vi ưu đãi và điều kiện thực hiện.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Phó Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng). Ảnh: chinhphu.vn/DA
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng, nhận định dự án luật có số điều sửa đổi không nhiều nhưng tác động đáng kể đến nguồn thu ngân sách, môi trường đầu tư và nghĩa vụ của người dân, doanh nghiệp. Theo đại biểu, mỗi chính sách cần được xem xét trên ba phương diện: Có đúng mục tiêu, lợi ích thực tế đến với ai và có đủ điều kiện tổ chức thực hiện hay không.
Với đề xuất miễn thuế cho cơ sở giáo dục, đại biểu ủng hộ việc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ sở công lập và cơ sở tư thục hoạt động không vì lợi nhuận, nhằm huy động nguồn lực, nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng cơ hội học tập.
Theo đại biểu, dự thảo đã bổ sung quy định xác định cơ sở giáo dục theo pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Tuy nhiên, cần bảo đảm cơ sở được hưởng ưu đãi duy trì đúng tính chất không vì lợi nhuận trong suốt thời gian áp dụng chính sách.
Đại biểu lưu ý, cơ sở giáo dục có thể không phân chia lợi nhuận trực tiếp nhưng vẫn chuyển lợi ích cho nhà đầu tư thông qua tiền thuê tài sản, lãi vay, phí quản lý hoặc giao dịch với bên liên quan có giá không phù hợp thực tế. Vì vậy, cần quy định nguyên tắc minh bạch, xác định chi phí hợp lý và kiểm soát các giao dịch này, không hạn chế những giao dịch hợp pháp, cần thiết nhưng phải ngăn ngừa việc chuyển nguồn lực dành cho giáo dục sang lợi ích riêng.
Mặt khác, hoạt động không vì lợi nhuận không đồng nghĩa với không có thặng dư thu chi. Cơ sở giáo dục vẫn cần tích lũy để nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao thu nhập cho đội ngũ và phát triển hoạt động. Học phí cao cũng không phải căn cứ duy nhất để kết luận một cơ sở hoạt động vì lợi nhuận. Điều quyết định là nguồn lực được sử dụng, tái đầu tư thế nào và có bị phân phối trái quy định hay không.
Từ đó, đại biểu đề nghị luật xác định rõ phạm vi thu nhập được miễn, điều kiện duy trì ưu đãi và nguyên tắc xử lý khi cơ sở không còn đáp ứng điều kiện; giao Chính phủ quy định cách thức thực hiện. Cần phân biệt thu nhập từ giáo dục, nghiên cứu, hoạt động hỗ trợ với thu nhập từ kinh doanh thương mại độc lập, tránh hiểu rằng mọi khoản thu của cơ sở giáo dục đều được miễn thuế.
Đối với truy thu, đại biểu đề nghị phân biệt trường hợp gian dối về điều kiện ngay từ đầu với trường hợp sử dụng sai một phần thu nhập về sau, bảo đảm xử lý tương xứng, vừa bảo vệ ngân sách, vừa tạo sự ổn định cho những cơ sở tuân thủ pháp luật.
Theo hồ sơ dự án được đại biểu dẫn, chính sách dự kiến làm giảm thu thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực giáo dục khoảng 2.200 tỷ đồng mỗi năm. Đại biểu đề nghị làm rõ cơ sở tính toán, số cơ sở thực sự đủ điều kiện và mức giảm thu tăng thêm so với các ưu đãi hiện hành; đồng thời theo dõi việc sử dụng nguồn lực được miễn thuế cho chất lượng đào tạo, học bổng và hỗ trợ người học.
Cùng quan điểm, đại biểu Đoàn Thu Hà (đoàn Lạng Sơn) cơ bản nhất trí với đề xuất miễn thuế cho cơ sở giáo dục, đồng thời đề nghị làm rõ tiêu chí xác định cơ sở giáo dục tư thục không vì lợi nhuận, kiểm soát giao dịch với bên liên quan và có nguyên tắc xử lý thuế khi cơ sở không còn đủ điều kiện hưởng ưu đãi.
Đại biểu Đoàn Thu Hà (đoàn Lạng Sơn) góp ý tại phiên thảo luận Tổ chiều ngày 23/10. Ảnh: chinhphu.vn/DA
Đối với đề xuất miễn thuế thu nhập cho tổ chức, cá nhân cung cấp suất ăn tại trường học và cơ sở khám, chữa bệnh, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đồng tình với mục tiêu hỗ trợ người học, người bệnh nhưng đề nghị làm rõ cơ chế chuyển lợi ích từ nhà cung cấp đến người sử dụng.
Theo đại biểu, nếu giá hợp đồng giữ nguyên, phần thuế được miễn có thể chỉ làm tăng lợi ích của nhà cung cấp mà không giúp giảm chi phí cho người sử dụng. Với đơn vị không phát sinh thu nhập chịu thuế, tác dụng hỗ trợ cũng có thể hạn chế.
Việc miễn thuế cũng chưa bảo đảm bữa ăn được cải thiện về dinh dưỡng, chất lượng và an toàn thực phẩm. Do đó, đại biểu đề nghị đánh giá tác động của chính sách, đặc biệt so sánh với phương án hỗ trợ trực tiếp bữa ăn cho những đối tượng cần hỗ trợ, nhằm xác định phương án sử dụng ngân sách hiệu quả hơn, đúng đối tượng hơn và dễ kiểm tra kết quả hơn.
Nếu tiếp tục chính sách, đại biểu đề nghị làm rõ đối tượng sử dụng suất ăn, phạm vi hợp đồng, cách tách doanh thu được miễn thuế; gắn ưu đãi với minh bạch giá, chất lượng và thời điểm đánh giá lại hiệu quả. Đồng thời, cần giải trình phạm vi ưu đãi trong tương quan với những nhóm có nhu cầu hỗ trợ tương tự.
Đại biểu cũng lưu ý quy định về ngoại lệ tại khoản 1 Điều 18 liên quan khoản 5b Điều 15 phải được làm rõ, không để phát sinh cách hiểu miễn thuế đồng nghĩa với miễn nghĩa vụ hóa đơn, chứng từ. Dù áp dụng phương pháp tính thuế nào, vẫn phải có căn cứ xác định hoạt động được miễn và truy xuất nguồn thực phẩm.
Theo đại biểu, trước khi quyết định miễn thuế không xác định thời hạn cho đơn vị cung cấp suất ăn, cần có căn cứ thuyết phục về lợi ích thực tế đối với người học, người bệnh.
Về đề xuất thuế suất 0,2%, không áp dụng hạn mức đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga ủng hộ sử dụng công cụ thuế để chống lãng phí đất đai, nhưng đề nghị phân biệt hành vi cố tình giữ đất, chậm triển khai với trường hợp có nguyên nhân khách quan hoặc thực hiện đúng tiến độ được duyệt.
Đại biểu lưu ý khoản 6 Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành đã quy định thuế suất 0,15% đối với đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định và quy định riêng đối với dự án đầu tư phân kỳ. Nếu bổ sung mức 0,2% mà không xử lý quan hệ với quy định hiện hành, một diện tích có thể bị hiểu là thuộc hai mức thuế. Vì vậy, cần xác định rõ từng trường hợp áp dụng.
Một vấn đề tác động trực tiếp tới người dân là đất ở hợp pháp của hộ gia đình, cá nhân chưa xây dựng có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không. Đại biểu đề nghị xác định cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng sử dụng đất, mốc bắt đầu và kết thúc tính thuế, quy trình thông báo và xử lý khi người sử dụng đất không đồng ý.
Các trường hợp chậm do thủ tục của cơ quan nhà nước, chưa bàn giao đất, sự kiện bất khả kháng hoặc tiến độ phân kỳ được phê duyệt phải được phân biệt với trường hợp chậm do lỗi của chủ đầu tư. Chính sách thuế cũng cần đặt trong quan hệ với gia hạn sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính tăng thêm và thu hồi đất theo pháp luật đất đai.
“Việc nộp thuế không thay thế nghĩa vụ sử dụng đúng mục đích và không làm mất căn cứ thu hồi đất”, đại biểu nhấn mạnh, đồng thời đề nghị đánh giá tổng nghĩa vụ tài chính và tác dụng thực tế trong việc thúc đẩy đưa đất vào sử dụng.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga còn đề nghị đánh giá tác động của việc cộng diện tích đất ở trong phạm vi một tỉnh, thành phố sau sắp xếp đơn vị hành chính. Có thể phát sinh trường hợp người dân không mua thêm đất nhưng cách cộng diện tích thay đổi do địa giới mới, dẫn đến nghĩa vụ thuế tăng. Với những địa phương như Hải Phòng, cần kiểm tra cụ thể để có quy định chuyển tiếp và hướng dẫn công khai nếu phát sinh tác động.
Cùng quan điểm chống lãng phí đất đai, đại biểu Đoàn Thu Hà cho rằng quy định về đất bỏ hoang phải được đối chiếu chặt chẽ với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đang được xem xét. Theo đại biểu, ba khái niệm “đất bỏ hoang”, “không đưa vào sử dụng”, “chậm đưa vào sử dụng” chưa được làm rõ đầy đủ. Pháp luật đất đai quy định hành vi vi phạm và căn cứ thu hồi, nhưng chưa có định nghĩa chung về “đất bỏ hoang”, nên dẫn chiếu chung dễ tạo ra cách hiểu khác nhau.
Đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “và quy định chi tiết của Chính phủ” vào quy định về đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng, để có cơ sở cụ thể hóa khi thi hành.
Đồng thời, cần quy định thống nhất thời điểm bắt đầu tính thuế suất 0,2%: từ ngày không sử dụng đất, ngày hết hạn phải đưa đất vào sử dụng hay ngày cơ quan có thẩm quyền xác định tình trạng đất. Cơ quan quản lý đất đai cần chịu trách nhiệm xác định, cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý, diện tích và thời gian không sử dụng hoặc chậm tiến độ cho cơ quan thuế làm căn cứ tính thuế.
Đại biểu Đoàn Thu Hà cũng đề nghị có cách xử lý rõ đối với đất vướng giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính, điều chỉnh quy hoạch, tranh chấp hoặc bất khả kháng; tránh áp mức thuế cao cho trường hợp không do lỗi người sử dụng đất.
Ngoài ra, cần lượng hóa thuế suất 0,2% theo giá đất tính thuế để đánh giá khả năng thúc đẩy đưa đất vào sử dụng. Việc thu thuế phải gắn với xử lý vi phạm và thu hồi đất theo quy định, không tạo tâm lý chỉ cần nộp thêm thuế là được tiếp tục giữ đất kéo dài.
Về chính sách miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đại biểu Đoàn Thu Hà đề nghị bổ sung khoản 12 Điều 9, quy định miễn thuế đối với hộ gia đình có số thuế phải nộp hằng năm ở mức nhỏ do Chính phủ quy định. Đây là kiến nghị bổ sung ngoài các trường hợp miễn thuế đã có trong dự thảo trình Quốc hội.
Các đại biểu đề nghị đánh giá đầy đủ tác động đến ngân sách địa phương, hoàn thiện quy định chuyển tiếp, chuẩn bị văn bản hướng dẫn trước khi luật có hiệu lực. Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, chính sách thuế cần tạo động lực phát triển, nuôi dưỡng nguồn thu bền vững; ưu đãi đến đúng nơi cần khuyến khích, nghĩa vụ phải rõ ràng, tương xứng, hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Theo Diệp Anh-VGP News