Số 4/28/379 Phố Đội Cấn, Phường Ngọc Hà, TP. Hà Nội
Quốc hội thảo luận ở Tổ về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vào chiều nay (17/10).
Dự thảo Luật được xây dựng hiện có bố cục gồm 4 chương với 35 điều, quy định về nguyên tắc, chính sách, nguồn lực, hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; hình thức, phương thức quản lý ngân sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Hầu hết các ý kiến phát biểu của Đại biểu Quốc hội bày tỏ sự đồng tình về sự cần thiết xây dựng và ban hành Luật; cho rằng, Luật được ban hành sẽ góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành, bảo đảm cơ chế hỗ trợ DNNVV thiết thực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới; luật hóa các cơ chế, chính sách lớn, có tính ổn định, lâu dài, qua đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc hỗ trợ DNNVV trong thời gian tới.
Đại biểu Quốc hội Lê Nữ Thuỳ Dương (Đồng Nai) phát biểu tại thảo luận Tổ - Ảnh: chinhphu.vn/Nguyễn Hoàng
Tiếp tục rà soát kỹ các nội dung quy định tại dự thảo
Đề cập đến những vấn đề cụ thể, một số ý kiến đại biểu cho rằng dự thảo Luật có phạm vi rộng, liên quan trực tiếp đến nhiều luật chuyên ngành, do đó Cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục rà soát kỹ các nội dung quy định tại dự thảo Luật; đối với các nội dung đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh, đề nghị chỉ quy định trong Luật những nội dung mang tính nguyên tắc hoặc dẫn chiếu đến quy định của pháp luật chuyên ngành, không quy định lại các chính sách đã được điều chỉnh đầy đủ tại luật chuyên ngành để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Về nguyên tắc ưu tiên hỗ trợ DNNVV, dẫn chiếu khoản 5, Điều 5 dự thảo Luật quy định trường hợp nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ thì doanh nghiệp nộp hồ sơ trước được hỗ trợ trước; tại cùng một thời điểm, nhiều doanh nghiệp cùng nộp hồ sơ thì ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật làm chủ; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, nhiều lao động là người khuyết tật; doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo, Đại biểu Lê Nữ Thuỳ Dương cho rằng bên cạnh các đối tượng ưu tiên nêu trên, việc ưu tiên hỗ trợ cần xét thêm yếu tố các ngành nghề được tập trung phát triển, cụ thể là các lĩnh vực, ngành nghề hỗ trợ cho hoặc liên quan đến chuỗi cung ứng của các ngành nghề ưu đãi đầu tư theo pháp luật về đầu tư.
Theo Đại biểu Lê Nữ Thuỳ Dương, bên cạnh hỗ trợ các đối tượng yếu thế tham gia hoạt động doanh nghiệp cũng cần khuyến khích, tạo điều kiện để DNNVV tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các ngành, nghề ưu đãi đầu tư, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ mục tiêu chung của đất nước.
Về tiếp cận nguồn vốn (Điều 8 dự thảo Luật), Đại biểu nhấn mạnh, để bảo đảm nguyên tắc tự chủ cấp tín dụng an toàn theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về khung pháp lý, định giá, giao dịch bảo đảm, xử lý tài sản, rủi ro thu hồi nợ… đối với các hình thức cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền hoặc theo chuỗi giá trị, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản vô hình.
Từ đó, Đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều 8 theo hướng: Chính phủ có chính sách để tổ chức tín dụng mở rộng cấp tín dụng trên cơ sở đảm bảo các quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa…; đồng thời đề nghị các cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành hướng dẫn cụ thể đối với các hình thức cho vay nêu trên.
Về tiếp cận mặt bằng sản xuất (điểm b khoản 1 Điều 10 dự thảo Luật), Đại biểu Lê Nữ Thuỳ Dương cho rằng, hiện nay, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê đất trong khu công nghiệp, các chủ đầu tư hạ tầng thường dành mức ưu đãi trong tiền thuê lại đất. Tuy nhiên, các nội dung hỗ trợ tại điểm b khoản 1 Điều 10 chưa bao gồm phần tiền thuê đất mà chủ đầu tư phải nộp Nhà nước đối với diện tích bố trí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại.
Vì vậy, đề nghị bổ sung vào các nội dung được hỗ trợ tại điểm b khoản 1 Điều 10 nội dung: "Hỗ trợ giảm tiền thuê đất phải nộp Nhà nước đối với đất bố trí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê lại" nhằm chia sẻ với chủ đầu tư hạ tầng đã dành ưu đãi tiền thuê lại đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó tạo động lực để chủ đầu tư bố trí quỹ đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, thuê lại, Đại biểu Lê Nữ Thuỳ Dương nêu kiến nghị.
Quy định nguyên tắc của cơ chế chia sẻ rủi ro tín dụng cho DNNVV
Nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển DNNVV thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14, Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) nhấn mạnh, việc đổi tên Luật từ "hỗ trợ" sang "phát triển" chỉ thực sự có ý nghĩa khi chính sách đến được với doanh nghiệp.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) phát biểu tại thảo luận Tổ - Ảnh: chinhphu.vn/Nguyễn Hoàng
Theo Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ, báo cáo thẩm tra đã chỉ rõ khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay là tiếp cận vốn vay mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu tài sản bảo đảm. Để xử lý điểm nghẽn này, Luật năm 2017 có ba công cụ trực tiếp: Bảo lãnh tín dụng qua Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa (khoản 3 Điều 8 và Điều 9); cho vay, tài trợ qua Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Điều 20); cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị (điểm đ khoản 2 Điều 17, điểm đ khoản 2 Điều 19).
Dự thảo không còn quy định cụ thể về cả ba công cụ nêu trên. Điều 8 chủ yếu là các quy định mang tính định hướng như "Nhà nước có chính sách", "Nhà nước khuyến khích". Cụm từ "bảo lãnh" chỉ xuất hiện một lần trong toàn bộ dự thảo, đó là tại điểm b khoản 2 Điều 35 về việc rà soát, sáp nhập hoặc giải thể quỹ bảo lãnh tín dụng. Hỗ trợ lãi suất chỉ còn tại khoản 1 Điều 21 và chỉ áp dụng cho dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn, dự án áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị.
Đồng thời, hoạt động của các quỹ thời gian qua đúng là còn hạn chế. Tuy nhiên, Báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính xác định nguyên nhân thuộc về cơ chế, như yêu cầu bảo toàn vốn và chưa có quy định về tỉ lệ chấp nhận rủi ro. Do đó, hướng xử lý phải là hoàn thiện cơ chế, không phải bỏ công cụ chia sẻ rủi ro tín dụng.
Vì vậy, Đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc của cơ chế chia sẻ rủi ro tín dụng cho DNNVV. Đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa điểm a khoản 2 Điều 35 với khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội, hiện đang giao chức năng cho Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi khoản 1 Điều 35 dự thảo vẫn cho phép doanh nghiệp lựa chọn áp dụng Nghị quyết này. Cùng với đó là cần bổ sung quy định chuyển tiếp đối với các hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng cho vay đang thực hiện, như khoản 2 Điều 35 Luật năm 2017 đã quy định đối với các cam kết của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về tiêu chí xác định DNNVV (Điều 4), có ý kiến nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu xác định tiêu chí phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động của từng nhóm doanh nghiệp; xác định thông tin, số liệu trong 2-3 năm liền kề; làm rõ tác động đến phạm vi thụ hưởng và nguồn lực, tránh lợi dụng chính sách.
Tổ 4 (các đoàn Đại biểu Quốc hội: Đồng Nai, Quảng Trị, Điện Biên) thảo luận Tổ - Ảnh: chinhphu.vn/Nguyễn Hoàng
Làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp thuộc các nhóm đối tượng ưu tiên
Về chính sách ưu tiên đối với doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Điều 17, Đại biểu Lò Thị Luyến (Điện Biên) nhất trí với việc dự thảo bổ sung các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ và doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo; cho đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực đối với các địa phương miền núi, biên giới như tỉnh Điện Biên.
Tuy nhiên, Đại biểu Lò Thị Luyến cho rằng, dự thảo cần làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp thuộc các nhóm đối tượng ưu tiên. Cụ thể, đối với doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo, cần xác định căn cứ theo địa chỉ trụ sở chính, địa điểm sản xuất, kinh doanh hay địa bàn thực hiện dự án đầu tư. Trường hợp doanh nghiệp đăng ký trụ sở tại địa bàn thuận lợi nhưng tổ chức sản xuất, kinh doanh, sử dụng lao động tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có được hưởng chính sách hỗ trợ hay không?
Mặt khác, Điều 17 đã quy định ưu tiên đối với doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ, nhưng chưa có quy định rõ về doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số; đề nghị nghiên cứu bổ sung nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số vào đối tượng được ưu tiên hỗ trợ tại Điều 17; đồng thời thống nhất với điểm b khoản 5 Điều 5 về nguyên tắc lựa chọn đối tượng hỗ trợ.
Đại biểu cũng đề nghị giao Chính phủ quy định tiêu chí định lượng cụ thể về tỉ lệ lao động là người dân tộc thiểu số, địa bàn sản xuất, kinh doanh và điều kiện hưởng chính sách; bảo đảm dễ xác định, dễ áp dụng và tránh lợi dụng chính sách.
Chính sách hỗ trợ cần phù hợp với quy mô, điều kiện và khả năng phát triển của doanh nghiệp tại từng địa bàn, tránh áp dụng một cơ chế đồng nhất nhưng khó thực hiện ở địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Liên quan đến quy định về nguyên tắc hỗ trợ (Điều 5), có ý kiến đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, bổ sung các quy định để bảo đảm đầy đủ, chặt chẽ, thống nhất với các quy định của pháp luật hiện hành, phòng ngừa lợi dụng, trục lợi chính sách; bổ sung quy định để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, về sắp xếp các quỹ hỗ trợ DNNVV (khoản 2 Điều 35), một số ý kiến đề nghị làm rõ căn cứ, phương án rà soát, sáp nhập hoặc giải thể Quỹ Phát triển DNNVV và các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; đánh giá đầy đủ nguyên nhân hoạt động chưa hiệu quả của các quỹ; làm rõ việc xử lý tài sản, các cam kết bảo lãnh đã phát hành, bảo đảm không làm gián đoạn các khoản vay, bảo lãnh đang thực hiện.
Theo Hải Liên-VGP News